Các hành tinh trong hệ Mặt Trời và những bí mật thú vị

Hệ Mặt Trời là ngôi nhà của Trái Đất và cũng là nơi duy nhất đảm bảo sự tồn tại cho toàn nhân loại hiện nay. Tuy nhiên bạn đã hiểu biết được bao nhiêu về hệ hành tinh "độc nhất vô nhị" - nơi duy nhất có sự sống trong "phần vũ trụ đã biết" này? Hãy cùng tìm hiểu xem có bao nhiêu hành tinh trong hệ Mặt Trời và chúng gồm những hành tinh nào, thứ tự ra sao?
 

Có bao nhiêu hành tinh trong Hệ Mặt Trời

 

Hệ Mặt Trời là gì?

Hệ Mặt Trời hay còn được gọi với tên gọi khác là Thái Dương hệ. Đây là một hệ hành tinh có Mặt Trời nằm ở vị trí trung tâm và cách thiến thể khác chịu lực hấp dẫn của Mặt Trời. Cách đây khoảng 4,6 tỷ năm về trước thì chúng đã được hình thành từ sự sụp đổ của một đám mây có phân tử khổng lồ. Trong dải ngân hà rộng lớn này không chỉ có hệ Mặt Trời mà bên cạnh đó còn có những thiên thể khác di chuyển xung quanh hệ Mặt Trời và các hành tinh với quỹ đạo elip gần tròn.
 

Những hành tinh trong hệ Mặt Trời
 

Hệ Mặt Trời có mấy hành tinh chính?

Trước khi xác định xem có bao nhiêu hành tinh trong Hệ Mặt Trời, chúng ta sẽ cần phải hiểu rõ về khái niệm để xác định được các hành tinh. Cụ thể theo định nghĩa hành tinh được Đại hội đồng Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU) đưa ra vào năm 2006 thì một thiên thể để được gọi là một hành tinh cần phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:

- Quay xung quanh một ngôi sao, một hệ sao hay một tàn tích sao (trong trường hợp của chúng ta thì hành tinh đó phải xoay quanh Mặt Trời).

- Có khối lượng đủ lớn để lực hấp dẫn (lực hút giữa các vật có khối lượng) do chính nó tạo ra phá hủy được kết cấu của các vật thể rắn, khiến cho nó có dạng cân bằng thủy tĩnh (gần tương tự như hình cầu).

- Đã “dọn sạch” vùng lân cận quanh quỹ đạo của nó (tức là khối lượng của thiên thể này sẽ chiếm gần như tuyệt đối tổng khối lượng của tất cả các thiên thể nằm trong quỹ đạo mà nó đi qua).

Từ định nghĩa trên và theo hiểu biết của con người thì hiện nay, Hệ Mặt Trời có 8 hành tinh chính. Bên cạnh đó, một số dấu hiệu vừa được các nhà thiên văn học phát hiện ra đang cho thấy sự tồn tại của hành tinh thứ 10 thuộc Hệ Mặt Trời.

Cấu trúc của hệ Mặt Trời

Các hành tinh trong Hệ Mặt Trời có thứ tự cụ thể tính từ trong ra ngoài như sau: Sao Thủy (Mercury), Sao Kim (Venus), Trái Đất (Earth), Sao Hỏa (Mars), Sao Mộc (Jupiter), Sao Thổ (Saturn), Sao Thiên Vương (Uranus) và Sao Hải Vương (Neptune). Chúng được chia đều thành 02 nhóm, nhóm hành tinh nhỏ vòng trong và nhóm hành tinh lớn vòng ngoài.

1. Các hành tinh nhỏ vòng trong

Các hành tinh nhỏ vòng trong gồm Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa. Các hành tinh này do nằm gần với Mặt Trời nên nhiệt độ của chúng thường duy trì ở mức cao. Vì thế cấu tạo chính của các hành tinh này chủ yếu là những chất khó nóng chảy như silicat (khoáng vật tạo đá) bao phủ bên ngoài và sắt hay niken nằm trong lõi. Do đó trọng lượng riêng của chúng cũng khá lớn. Những hành tinh này có rất ít hoặc không có vệ tinh tự nhiên.

2. Các hành tinh lớn vòng ngoài

Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương. Các hành tinh vòng ngoài nằm xa Mặt Trời hơn do đó nhiệt độ ở đây khá thấp, đủ để giữ cho các phân tử khí (vốn chiếm tỷ lệ áp đảo trong vũ trụ) tích tụ và ổn định, tạo nên những “hành tinh khí khổng lồ”.

Bên cạnh đó, hai hành tinh Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương do ở quá xa nên lượng nhiệt chúng nhận được là rất ít. Điều này dẫn đến việc thành phần chính của chúng chủ yếu là băng (được tạo thành do nước, khí amoniac và khí metan đông đá). Do đó các nhà thiên văn học xếp hai hành tinh này vào nhóm “hành tinh băng khổng lồ”.

Bởi vì được tạo nên chủ yếu từ khí và băng nên những hành tinh vòng ngoài có trọng lượng riêng rất thấp, thậm chí Sao Thổ còn có thể nổi được trên mặt nước. Các hành tinh vòng ngoài có khá nhiều vệ tinh tự nhiên.
 

Các hành tinh trong Hệ Mặt Trời

 

Thứ tự các hành tinh trong Hệ Mặt Trời

Bạn đã biết về các hành tinh trong hệ Mặt Trời chưa? Đây đều là những khám phá từ rất lâu đời và là nền tảng cho những nghiên cứu về thiên văn sau này. Vậy thì tên các hành tinh trong hệ Mặt Trời là gì?

1. Sao Thủy ( Mercury)

- Phát hiện: Được khám phá ra bởi người La Mã và Hy Lạp cổ đại và có thể nhìn thấy được bằng mắt thường.

- Tên gọi theo: Sứ giả của các vị thần La Mã

- Đường kính: 4.878 km

- Quỹ đạo: 88 ngày Trái Đất

- Ngày: 58,6 ngày Trái Đất

Sao Thủy là hành tinh có vị trí gần với Mặt Trời nhất, chỉ có kích thước lớn hơn Trái Đất và Mặt Trăng một chút. Vì nằm gần Mặt Trời nên vào ban ngày, hành tinh này có thể có nhiệt độ lên đến 450 độ C,  tương đương với 840 độ H. Tuy nhiên, vào ban đêm thì nhiệt độ lại ngược lại hoàn toàn khi nhiệt độ có thể xuống đến âm hàng trăm độ C, đến mức nơi đây có thể đóng băng được. Sao Thủy có bề mặt rỗ và nhiều lỗ hổng giống như Mặt Trăng, bởi vì nơi đây không có không khí để tiếp diễn các tác động của thiên thạch.

2. Sao Kim (Venus)

- Phát hiện: Được phát hiện bởi người La Mã và Hy Lạp cổ đại và có thể nhìn thấy được bằng mắt thường.

- Tên gọi theo: Nữ thần tình yêu và sắc đẹp của La Mã

- Đường kính: 12.104 km

- Quỹ đạo: 225 ngày Trái Đất

- Ngày: 241 ngày Trái Đất

Sao Thủy được biết đến là có nhiệt độ lên đến 450 độ C, tuy nhiên nhiệt độ của sao Kim lại còn nóng hơn rất nhiều lần. Đặc biệt, không khí tại hành tinh này là vô cùng độc hại và áp suất trên bề mặt cồn có thể giết chết bạn. Vậy nên, các nhà khoa học đã từng miêu tả vị trí của sao Kim giống như hiện tượng hiệu ứng nhà kính không thể kiểm soát được. Về kích thước thì Sao Kim có diện tích và cấu trúc tương đương với Trái Đất và bầu khí quyển khá độc hại. Ngoài ra, còn có một điều kì lạ khác đó là sao Kim có vòng quay khá chậm và ngược chiều với hầu hết các hành tinh còn lại.

3. Trái Đất (Earth)

- Đường kính: 12.760 km

- Quỹ đạo: 365,24 ngày

- Ngày: 23 giờ 56 phút

Trái Đất cũng chính là hành tinh duy nhất xuất hiện sự sống và được bao bọc bởi 2/3 là biển và đại dương. Nhờ vào việc bầu không khí chứa nhiều nitơ và oxy nên nơi đây có thể duy trì được sự sống. Theo như nghiên cứu của các nhà khoa học, bề mặt Trái Đất di chuyển quanh trục của nó với tốc độ khoảng 67 m/giây ở đường xích đạo và di chuyển quanh Mặt Trời với tốc độ là 29 km/giây.
 

Tên các hành tinh trong hệ Mặt Trời
 

4. Sao Hỏa (Mars)

- Phát hiện: Được biết đến bởi người La Mã và Hy Lạp cổ đại và có thể nhìn thấy được bằng mắt thường

- Tên gọi theo: Thần chiến tranh của La Mã

- Đường kính: 6.787 km

- Quỹ đạo: 687 ngày Trái Đất

- Ngày: Khoảng hơn một ngày Trái đất (24 giờ 37 phút)

Sao Hỏa được biết đến là một hành tinh gồm có đất đá và khá lạnh cùng với bề mặt hiện lên màu đỏ đặc trưng do bụi bẩn là một oxit sắt.. Hành tinh này có những đặc điểm khá giống với Trái Đất, cụ thể đó là gồm bề mặt đất đá, có núi và thung lũng. Đặc biệt, ở đây còn xuất hiện rất nhiều cơn bão, từ những cơn bão lốc xoáy cho đến những cơn bão có thể nhấn chìm hành tinh.

Bao phủ lên bề mặt hành tinh này là nước đóng băng. Dù nhiều nhà khoa học cho rằng ngay khi nhiệt độ nóng lên, sao Hỏa sẽ xuất hiện nhiều chất lỏng. Tuy nhiên, cho tới nay thì nơi đây vẫn còn đang là một hành tinh lạnh và giống như sa mạc.

Bên cạnh đó, sao Hỏa cũng rất khó để chất lỏng tồn tại được trên bề mặt vì bầu khí quyển khá mỏng. Các nhà khoa học cũng cho rằng có thể ở thời cổ đại, nơi đây đã từng xuất hiện sự sống và vẫn luôn hy vọng việc có thể tìm kiếm những dầu tính về sự sống trong quá khứ hoặc thậm chí là ở hiện tại, khi người ngoài hành tinh - một loài sinh vật hay nào đó tồn tại được ở “hành tinh đỏ” này.

5. Sao Mộc (Jupiter)

- Phát hiện: Được biết đến bởi người La Mã và Hy Lạp cổ đại và có thể nhìn thấy được bằng mắt thường

- Tên gọi theo: Thần thoại Hy Lạp & La Mã

- Đường kính: 139.822 km

- Quỹ đạo: 11,9 năm Trái Đất

- Ngày: 9.8 giờ Trái Đất

Có thể nói, trong hệ Mặt Trời thì sao Mộc là hành tinh lớn nhất với hệ khí quyển chủ yếu là khí hidro và heli. Do hiện tượng nhiễu loạn khí động và sự tương tác với những cơn bão tại biên nên lớn khí quyển của hành tinh này hiện lên có nhiều lớp mây ở những độ cao khác nhau. Ngoài ra, một đặc điểm nổi bật khác của sao Mộc đó là Vết đỏ lớn (Great Red Spot). Đây là một cơn bão khổng lồ đã được phát hiện ra từ hàng trăm năm trước. Khi đó, hành tinh này xuất hiện từ trường mạnh và xung quanh có hàng tá Mặt Trăng rất giống với một hệ mặt trời thu nhỏ.

6. Sao Thổ (Saturn)

- Phát hiện: Được phát hiện bởi người La Mã và Hy Lạp cổ đại và có thể nhìn thấy được bằng mắt thường

- Tên gọi theo: Thần nông nghiệp La Mã

- Đường kính: 120.500 km

- Quỹ đạo: 29,5 năm Trái Đất

- Ngày: Khoảng 10,5 giờ Trái Đất

Sao Thổ là hành tinh xa thứ 6 tính theo khoảng cách trung bình từ Mặt Trời và được mọi người biết đến nhiều nhất là về vành đai. Vào đầu những năm 1600, khi người đầu tiên tìm hiểu về sao Tổ là Galileo Galilei, ông đã nghĩ rằng đây là một vật thể có ba phần gồm một hành tinh và hai Mặt Trăng ở hai bên.
 

Kích thước các hành tinh trong hệ Mặt Trời
 

7. Sao Thiên Vương (Uranus)

- Phát hiện: William Herschel năm 1781 (trước đây Herschel từng nghĩ đó là một ngôi sao)

- Tên gọi theo: Vị thần bầu trời của người Hy Lạp cổ

- Đường kính: 51.120 km

- Quỹ đạo: 84 năm Trái Đất

- Ngày: 18 giờ Trái Đất

Sao Thiên Vương là hành tinh có lượng khí khổng lồ và cũng được biết đến là nơi duy nhất có đường xích đạo vuông góc với quỹ đạo của nó. Đồng thời, sao Thiên Vương cũng gần như song song với mặt phẳng quỹ đạo của các hành tinh khác. Vậy nên, không có gì là lạ khi xem đây là hành tinh có đặc điểm độc nhất.

Các nhà thiên văn cho rằng sự nghiêng này là do sao Thiên Vương đã va chạm với một số vật thể có kích thước khá lớn. Chính vì độ nghiêng này nên đã tạo ra mùa khắc nghiệt kéo dài hơn 20 năm cho nơi đây cũng như làm cho chu kỳ của sao Thiên Vương lên đến 84 năm Trái Đất. Về đặc điểm thì sao Thiên Vương có kích thước khá tương đương với sao Hải Vương. Bên cạnh đó, hành tinh này có màu lục và lam, nhiều Mặt Trăng cùng với vành đai mở là vì khí metan gần như chiếm toàn bộ khí quyển.

8. Sao Hải Vương (Neptune)

- Phát hiện: Năm 1846

- Tên gọi theo: Thần nước của La Mã

- Đường kính: 49.530 km

- Quỹ đạo: 165 năm Trái Đất

- Ngày: 19 giờ Trái Đất

Sao Hải Vương hay còn được gọi là Hài Vương tinh. Hành tinh này được phát  hiện chính là nhờ vào những cơn gió mạnh nhất, có đôi khi nhanh hơn cả tốc độ của âm thanh. Sao Hải Vương có vị trí xa gấp khoảng 30 lần so với vị trí từ Trái Đất cho đến Mặt Trời, vậy nên nhiệt độ khá lạnh.

Trước khi mọi các nhà khoa học phát hiện ra sao Hải Vương thì đây chính là hành tinh đầu tiên được dự đoán về sự tồn tại bằng cách sử dụng toán học. Nhà thiên văn học người Pháp là Alexis Bouvard đã nhờ đến sự giúp đỡ của những nhà thiên văn học gây một lực hấp dẫn. Còn nhà thiên văn học người Đức là Johann Galle thì sử dụng các phép tính và kính thiên văn để xác định sao Hải Vương. Sau một thời gian, họ đã xác định rằng hành tinh này lớn hơn 17 lần so với Trái Đất.

9. Sao Diêm Vương (Hành tinh lùn – Dwarf Planet)

- Phát hiện: Clyde Tombaugh vào khoảng năm 1930

- Tên gọi theo: Thần địa ngục của La Mã, Hades

- Đường kính: 2.301 km

- Quỹ đạo: 248 năm Trái Đất

- Ngày: 6.4 ngày Trái Đất

Hành tinh thứ 9 trong hệ Mặt Trời được xác định đó là sao Diêm Vương. Hành tinh này có nhiều đặc điểm khác với những hành tinh còn lại. Ví dụ như kích thước của sao Diêm Vương bé hơn Mặt Trăng và Trái Đất. Bên cạnh đó, quỹ đạo của sao Diêm Vương cũng thuộc quỹ đạo của sao Hải Vương và đang dần dần được tác ra. 

Từ năm 1979 đến năm 1999, sao Diêm Vương được xem là hành tinh thứ 9 tính từ hệ Mặt Trời. Tuy nhiên, sau đó hành tinh này đã đi theo con đường của sao Hải Vương rồi dần trở thành hành tinh nằm xa nhất trong hệ Mời rồi dần trở thành một hành tinh lùn. Do đó, vào năm 2006, các nhà khoa học đã loại bỏ sao Diêm Vương khỏi danh sách các hành tinh chính của Hệ Mặt Trời.

Những hành tinh nắm giữ kỷ lục trong Hệ Mặt Trời

1. Hành tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời

Sao Mộc là hành tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời có đường kính trung bình khoảng 69.911 kilômét (km); diện tích bề mặt khoảng 6,1419x1010 km vuông (km2) với khối lượng khoảng 1,8986x1027 kilôgram (kg), đây chính là hành tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời. Đường kính Sao Mộc gấp 10,9 lần, diện tích gấp 121,9 lần và khối lượng gấp khoảng 318 lần so với Trái Đất.

Đồng thời, khối lượng của hành tinh này cũng bằng khoảng 2,5 lần so với tổng khối lượng của 7 hành tinh còn lại. Hiện nay chúng ta đã phát hiện được khoảng 79 vệ tinh tự nhiên quay xung quanh Sao Mộc. Trong đó vệ tinh Ganymede thậm chí còn có kích thước lớn hơn cả Sao Thủy.
 

Hành tinh lớn nhất Hệ Mặt Trời
 

2. Hành tinh nhỏ nhất Hệ Mặt Trời

Sao Thủy là hành tinh nhỏ nhất trong Hệ Mặt Trời và nằm gần Mặt Trời nhất. Bán kính trung bình của Sao Thủy chỉ khoảng 2.439,7km; diện tích bề mặt khoảng 7,48x107km2 và khối lượng khoảng 330,22x1021kg. Tức là bán kính của hành tinh này chỉ bằng khoảng 0,3829 lần; diện tích bề mặt chỉ bằng 0,147 lần và khối lượng chỉ bằng khoảng 0,055 lần so với Trái Đất. Hành tinh này có lõi bằng sắt tương đối lớn cộng với lớp phủ bề mặt tương đối mỏng. Sao Thủy hầu như không có khí quyển và nó cũng không có vệ tinh tự nhiên.

Xem thêmNhững cơn mưa sao băng lớn và đẹp nhất lịch sử thế giới
 

Hành tinh nhỏ nhất Hệ Mặt Trời
 

3. Hành tinh nóng nhất trong Hệ Mặt Trời

Thông thường hành tinh nào nằm gần sao chủ (như Mặt Trời) nhất sẽ có nhiệt độ cao nhất. Tuy nhiên điều này lại không chính xác ở Hệ Mặt Trời của chúng ta. Mặc dù Sao Thủy nằm gần Mặt Trời nhất nhưng do không có bầu khí quyển cộng với tốc độ quay rất “dị thường” nên nhiệt độ ở đây không thể giữ được đủ lâu và đủ cao - nhiệt độ bề mặt tối đa “chỉ” đạt khoảng 420ᵒC.

Bên cạnh đó, hành tinh thứ 2 tính từ Hệ Mặt Trời là Sao Kim cũng ở vị trí khá gần với sao chủ. Cộng với đó là bầu khí quyển có khối lượng lớn gấp 93 lần khối lượng bầu khí quyển của Trái Đất gồm chủ yếu là CO2 và SO2 để tạo ra hiệu ứng nhà kính mạnh nhất trong số cả 8 hành tinh chính. Những điều kiện trên là nguyên nhân khiến cho Sao Kim trở thành hành tinh nóng nhất Hệ Mặt Trời với nhiệt độ bề mặt tối đa ít nhất đạt khoảng 462ᵒC.
 

Hành tinh nóng nhất Hệ Mặt Trời
 

4. Hành tinh lạnh nhất Hệ Mặt Trời

Cũng tương tự như trường hợp của Sao Kim và Sao Thủy, trong khi đáng lẽ Sao Hải Vương - hành tinh cách xa Mặt Trời nhất - nắm giữ kỷ lục này thì trong thực tế, Sao Thiên Vương mới đang sở hữu danh hiệu hành tinh lạnh nhất Hệ Mặt Trời.

Theo các nhà thiên văn học, mặc dù Sao Hải Vương nằm xa Mặt Trời hơn so với Sao Thiên Vương, nhưng trong khi Sao Hải Vương phát tán lượng nhiệt năng vào vũ trụ bằng khoảng 2,61 lần năng lượng bức xạ mà nó nhận được từ Mặt Trời thì Sao Thiên Vương chỉ phát tán khoảng 1,1 lần. Điều này khiến cho lượng nội nhiệt của Sao Hải Vương lớn hơn và nó làm cho hành tinh này trở nên nóng hơn, dù chỉ một chút. Vì vậy mà nhiệt độ đo được trong khoảng lặng tầng đối lưu của Sao Thiên Vương xuống tới -224ᵒC còn với Sao Hải Vương là khoảng -221,4ᵒC.
 

Hành tinh lạnh nhất Hệ Mặt Trời

 

Số lượng hành tinh tối đa có thể quay quanh Mặt trời là bao nhiêu?

Theo như Livescience, hệ Mặt Trời sẽ gồm có 8 hành tinh đó là: sao Thủy, sao Kim, Trái Đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương. Tất cả các hành tinh này đều chịu một lực hấp dẫn và quay quanh Mặt Trời. Nhưng có thật sự chỉ có những hành tinh này quay quanh Mặt Trời không? Hay số lượng còn nhiều hơn?

Trên thực tế, hệ Mặt Trời được biết đến là chứa một số lượng lớn các hành tinh. Theo The Extrasolar Planets Encyclopaedia, hiện đã khám phá ra 812 hệ hành tinh có trên 3 hành tinh trở lên. Trong đó, có hệ Kepler-90 là chứa nhiều hành tinh giống như hệ Mặt Trời. Điều đó cũng có nghĩa là có thể có rất nhiều hệ hành tinh chứa các hành tinh nhỏ bên trong mà không thể phát hiện hết được. Vậy nên, vẫn chưa có sự chắc chắn nào về việc hệ Mặt Trời có phải là hệ hành tinh đông dân cư nhất hay không.

Để có thể tính tính toán số lượng tối đa các hành tinh quay quanh mặt trời, các nhà nghiên cứu thiên văn cần phải đi vào lý thuyết và bỏ ra một số yếu tố tự nhiên có thể làm hạn chế số lượng hành tinh tạo thành. Trong đó, cách tốt nhất đó chính là thiết kế một hệ Mặt Trời hoàn toàn mới. Sau khi xem xét cách biến số quan trọng, họ đã xác định được các con số và xem xét hệ mặt Trời có thể chứa bao nhiêu hành tinh bên trong.  Nhưng bạn cũng cần biết rằng các tính toán này là dựa trên lý thuyết để tạo ra những mô phỏng thực tế. 

Để tính toán số lượng hành tinh tối đa trong hệ Mặt Trời, hệ thống đã được thiết kế mở rộng lên đến 1.000 đơn vị thiên văn (AU) tính từ Mặt Trời (trong đó 1 AU khoảng 150 triệu kilomet, bằng với khoảng cách từ Mặt Trời đến Trái Đất. Còn theo Cơ quan Vũ trụ Châu Âu, rìa xác định của hệ Mặt Trời, hay còn được gọi là Nhật Quyển đến Mặt Trời thì có khoảng cách khoảng 100 AU và còn có thể mở rộng ra xa hơn nhiều do ảnh hưởng của lực hấp dẫn của Mặt Trời.

Theo như tính toán, nếu như các hành tinh có kích thước bằng với Trái Đất thì hệ Mặt Trời có khoảng 57 quỹ đạo, mỗi quỹ đạo chứa khoảng 42 hành tinh. Như vậy, tổng cộng sẽ có khoảng 2.394 hành tinh quay quanh Mặt trời. Nếu như kích thước của các hành tinh chỉ bằng 1/10 kích thước của Trái Đất thì sẽ có 121 quỹ đạo, mỗi quỹ đạo chứa 89 hành tinh.

Theo tính toán này thì sẽ có khoảng 10.769 hành tinh quay quanh Mặt Trời. Còn nếu như các hành tinh này chỉ có kích thước tương đương với Mặt Trăng thì hệ Mặt Trời có đến 341 quỹ đạo, mỗi quỹ đạo chứa 193 hành tinh và tổng số hành tinh quay quanh Mặt trời có thể lên đến con số 65.813.

Từ những tính toán này, có thể thấy rằng số lượng hành tinh quay quanh Mặt Trời là cực kỳ lớn. Điều này cũng chứng minh được rằng có nhiều hành tinh khác trong hệ hệ Mặt Trời thay vì chỉ có 8 hành tinh giống như chúng ta vẫn biết. Tuy nhiên, con số đó là bao nhiêu thì hiện nay vẫn chưa có một tính toán hay phát hiện chính xác nào.
 

Kể tên các hành tinh trong hệ Mặt Trời
 

Trên đây là một số thông tin để giải đáp cho các câu hỏi Hệ Mặt Trời có bao nhiêu hành tinh, hành tinh nào nóng nhất, hành tinh nào lạnh nhất, hành tinh nào lớn nhất và hành tinh nào bé nhất mà nhiều người thường đặt ra. Hy vọng sau khi đọc xong bài viết của Phương Nam 24h, các bạn đã có thêm một số kiến thức thú vị và bổ ích về Hệ Mặt Trời - nơi Trái Đất thân yêu của chúng ta đang tồn tại.

Nội dung liên quan

Tin Tổng hợp khác

Tư duy phản biện là gì? Bí quyết rèn luyện tư duy phản biện

Tư duy phản biện là gì? Bí quyết rèn luyện tư duy phản biện

Tư duy phản biện là khả năng suy luận và đánh giá thông tin một cách logic để đưa ra lập luận chính xác khi đối mặt với vấn đề.  
Flex là gì? Giải mã lý do trend flex khuynh đảo mạng xã hội

Flex là gì? Giải mã lý do trend flex khuynh đảo mạng xã hội

Flexing không chỉ dừng lại trong việc khoe khoang mà còn tạo động lực và là nguồn cảm hứng để mọi người vượt qua giới hạn bản thân.  
Gen Z là gì? Những đặc trưng có 1-0-2 của thế hệ Gen Z

Gen Z là gì? Những đặc trưng có 1-0-2 của thế hệ Gen Z

Thế hệ Gen Z là một cộng đồng trẻ trung, sôi nổi, nhiệt huyết và đầy năng lượng, luôn mang trong mình những tư tưởng bứt phá táo bạo.  
Kỹ năng thuyết trình là gì? Bí kíp nâng cao kỹ năng thuyết trình

Kỹ năng thuyết trình là gì? Bí kíp nâng cao kỹ năng thuyết trình

Không phải ai sinh ra cũng tự nhiên sở hữu khả năng thuyết trình xuất sắc, tuy nhiên có nhiều phương pháp giúp bạn rèn luyện kỹ năng này. 
KOC là gì? Điểm khác biệt giữa KOL và KOC marketing

KOC là gì? Điểm khác biệt giữa KOL và KOC marketing

Hiểu rõ KOL là gì cũng như sự khác biệt giữa KOL và KOC sẽ giúp bạn chọn được hình thức tiếp thị phù hợp, hiệu quả cho doanh nghiệp.  
Kỹ năng ra quyết định là gì? Quy trình ra quyết định hiệu quả

Kỹ năng ra quyết định là gì? Quy trình ra quyết định hiệu quả

Kỹ năng ra quyết định không chỉ là khả năng lựa chọn mà còn liên quan chặt chẽ đến quá trình tư duy, xử lý thông tin và phân tích tình huống.